Thứ Ba, 17 tháng 3, 2015

“Con lạy hàng dừa con lạy đoá sen…”



“Con lạy hàng dừa con lạy đoá sen…”

     Tôi cài lên ngực mình một “Đóa hoa Hồng trắng” vào năm 14 tuổi. Sở dĩ nêu chuyện riêng tư là để thưa rằng: Tôi cũng như bất kỳ người con nào hôm nay trong chúng ta, ai ai cũng luôn lưu giữ trong lòng mình niềm kính yêu vô hạn đối với đấng sinh thành, và riêng với mẹ, tình yêu thiêng liêng nhất trong tất cả tình cảm thiêng liêng của con người sống ở thế gian này. Chúng ta được mẹ cưu mang chín tháng mười ngày, sinh ta ra trong đớn đau cùng tận, vậy mà vừa nghe được tiếng khóc chào đời của núm ruột đỏ hỏn lọt lòng, Mẹ đã nén cơn đau để nở nụ cười mừng đón, rồi mẹ ẵm bồng bú mớm nuôi ta ăn học nên người. Mẹ dựng vợ gã chồng, lo nhà lo cửa, Mẹ luôn dõi mắt theo suốt cuộc đời giông gió của ta. Những  năm tháng cuối đời, mẹ lại trông nhà giữ cháu để ta yên tâm trên bước đường công danh sự nghiệp. Ta nên người mẹ hả lòng hả dạ, ta thất bát cuộc đời thì chính mẹ lại buồn đau. Mẹ là tất cả những nghĩa lý tốt đẹp và cao cả mà con người có thể nghĩ suy dặn lòng hiếu kính.
     Từ khi biết tạo tác ra các hình thức biểu đạt để lưu giữ những giá trị tốt đẹp của đời sống, thì mẹ đã là một nguồn cảm hứng bất tận để cho những tài năng và trí tuệ hướng đến khai thác, thăng hoa niềm xúc cảm tạo nên những tác phẩm trường tồn với thời gian, vinh danh công đức lớn lao và duy nhất.
     Tuyển thơ “MẸ” là tập hợp của nhiều tấm lòng Có sự góp mặt từ những tác giả tên tuổi trên cả nước, đến những bạn thơ vừa chập chững vào con đường thi ca. Mỗi người một cách tỏ bày, ta sẽ gặp được rất nhiều bài thơ điêu luyện, có nghề, thể hiện tâm hồn tài hoa, bút pháp vững vàng giàu phong cách, đến những bài viết còn nhiều thô mộc vụng về. Song tất cả đều có chung một cảm quan nghệ thuật, một đề tài khai thác. Tuy vậy, vẫn ít gặp sự trùng lặp trong diễn đạt.
   
     Thử dẫn một số hình ảnh sắc nét nhất trong tập, người đọc dễ dàng chia sẻ với những ý tưởng gần gụi mà độc đáo. Giản dị nhưng thâm trầm. Vụng về song dung chứa nhiều minh triết. Đó là bởi cái nguyên mẫu trữ tình cho phép ta không cần phải ngoa ngôn vọng ngữ vẫn nói lên được nghĩ suy chân thành ở mỗi tấm lòng người con dâng lên mẹ. Sự hàm ơn khi ta trưởng thành đủ khôn lớn nhận thức được tính duy nhất như mặt trời mỗi sớm, không thể thay thế, không thể khác đi. Chỉ mẹ là đấng tạo hóa riêng của mỗi con người. Mẹ là người phụ nữ tốt nhất trên cõi đời này, Mẹ vừa là đại từ nhân xưng chung của nhân loại, lại vừa duy nhất cho mỗi đứa con…
      Chẳng lạ, khi chỉ trong một đề tài, mà mỗi tác giả lại có những tình ý riêng lẻ rất thú vị. Làm nên nhiều cặp phạm trù thơ vừa tương hợp để bổ khuyết cho nhau. Lại vừa tương khắc để làm nổi bật cá tính sáng tạo của mỗi nghệ sỹ.
     Thật may mắn cho những ai khi tóc đã hoa râm mà vẫn còn có mẹ ở trên đời. Hiểu được phúc đức ấy nên Nguyệt Phượng đã có một ao ước hơi lạ thường
“Cuộc đời sẽ như thế nào khi vắng tiếng Mẹ ơi!/ vì thế xin hãy đợi con cùng già với mẹ”
(Đợi con cùng già).
     Với Tôn Nữ Thanh Yên, mẹ lại là hình ảnh cực đẹp chỉ qua hai câu lục bát
“Nỗi lòng lược chải không suôn/ Thanh tao giữ nếp còn hương mái đầu” (Thương hương tóc mẹ).
     Đỗ Tấn Đạt, một tác giả còn rất trẻ ở Quảng Nam nhưng lại chẳng trẻ nữa khi “hiểu” về cuộc đời bận bịu chồng con của mẹ
“Tóc sương búi mỏng tiếng cười/ Xổ ra năm tháng rối bời buồn vui… 
     Sự hàm ơn còn được thể hiện qua nhiều cách cảm cách nghĩ lung linh nhịp đập trái tim, sắc màu của tâm hồn, cái đẹp của nghệ thuật được thăng hoa vi diệu và tinh tế:
“Sợi mây cha bứt trên trời/ Bện thành đôi gióng gánh đời mà đi/ Khói cay xót ruột củi rì/ Mẹ bó từng lọn trần khi qua ngày…”
 (Thăng Phước) Huỳnh Trương Phát.
“Tuổi thanh xuân vú mẹ chưa đầy/ đã vắt cạn cho con giòng sữa nóng/ Mẹ ấp trong lòng bốn mùa biển động/ cái ngọt ngào chắt từ cọng rau khoai…”
(Mẹ) Nguyễn Tấn Sĩ.
     Một chút tủi thân và giận dỗi cho cảnh tình éo le phúc phận, cái sự “giận mẹ” không nhiều hơn được lòng “khát mẹ”:
“Thèm bàn tay mẹ đông sang/ nhưng nay mẹ chỉ là hàng xóm thôi”
(Giận mẹ) Vân Anh.
     Vốn là người chỉ dễ nhận biết được những điều giản dị. Tôi thật sự xúc động khi đọc đến 2 câu thơ này. Thiết tưởng sự gần gụi ân cần là một trong những tiêu chí rất đắt ở thơ trữ tình, nhất lại là thơ viết về mẹ. Người đã sinh ra mình thì cũng sinh ra những tâm tính sâu kín nhất của mình, vì vậy mà chân thành trở nên quý giá.
     Đứa con sẽ luôn bé nhỏ trước đấng sinh thành. Chỉ khi không còn cha mẹ trên cõi đời này, ta mới thật sự nhận biết cha mẹ là tượng đài riêng tư không thể  thay thế:
“Biết rằng mẹ chẳng xa con/ mà sao trầm đốt thơm hơn mọi ngày…”
(Khóc mẹ) Biển Hồ.
     Nhà thơ Nguyễn Ngọc Chương đã khái quát một cách hợp nhất mà xuyến xao niềm trắc ẩn được tình mẫu tử để nói lại cho rõ về một định kiến nghiệt ngã vẫn thường quen chịu thị phi nhân thế:
“Kể từ đó – quên mình phận đơn côi/ Sống cùng dì và em, con thấy mình hạnh phúc/ Ai hát chi câu: “Mấy đời bánh đúc…/ Con gục vào lòng dì để nước mắt mình rơi…”
(Bài thơ viết cho Dì)
     Có thể gọi đó là sự “mềm lòng”. Nhưng nếu cái tình người đằm sâu không xuất phát từ nhân tâm đôn hậu, hiếu kính thật thà thì phĩnh dỗ được ai đây giữa cuộc đời đã đổi thay nhiều giá trị?
     Cùng với hình ảnh, nghĩ suy đẹp về mẹ, nhà thơ Nguyễn Miên Thượng ở Hội An đã dựng được cặp lục bát đầy màu sắc, hình ảnh và cây cao bóng cả :
“Đỏ môi bỏm bẻm trầu tươi/ lắng nghe cháu chắt reo cười đoán tên”
(Tuổi mẹ)
     Bạn thơ của anh vừa giống lại  vừa khác cũng ở phát hiện này:
“ Bà con nội ngoại xóm giềng/ Mắt hom hem gọi đúng tên từng người ..”
(Ngồi nghe mẹ kể ) Nguyễn Bá Hòa
     Ngoài niềm thiêng liêng riêng tư của mỗi đứa con. Mẹ còn là mẹ chung của dân tộc, của đất nước. Mẹ là biểu tượng lồng lộng niềm yêu kính, vượt qua thời gian không gian neo đậu vào mỗi lòng người
”Mấy nghìn năm quý hiếm tiếng à ơi/ mẹ giữ gìn ngợi ca Tổ quốc/ tiếng mẹ gọi muôn đời náo nức / Những đứa con thời này có hiểu hết mẹ không?”
(Sâu thẳm đến vô cùng trời đất ) Phạm Văn Công
“Trong chao lượn tâm hồn con/ đất nước là khung trời lồng lộng/ Mẹ thân yêu là chiếc giây diều…”
(Chỉ có mẹ) Ngô Hà Phương
“Mẹ nguồn ca dao tục ngữ/ Dạy con tiếng nói ông cha/ Từ trong lời ru tình tự/ Giờ con hiểu nghĩa quê nhà…”
(Mẹ) Tạ Văn Sỹ.
      Và. Những người thực hiện tuyển tập này đã nghiêm cẩn lòng cầu thị khi quyết định đặt bài thơ “CHIỀU CUỐI NĂM, NHỚ MẸ THỨ” của nhà thơ mặc áo lính Lê Anh Dũng vào đầu sách như một tác phẩm tượng đài, đại diện tấm lòng, hình ảnh của Người Mẹ Việt Nam, một Dân tộc đã và sẽ sẵn sàng hy sinh tất cả cho thống nhất, độc lập và hạnh phúc. “Mẹ ngồi bên chín bát hương …” không còn là câu thơ đơn thuần mà đã trở thành thuật ngữ hàm ẩn tính biểu tượng thế kỷ. Cũng với trân trọng ấy, Thi phẩm “TRĂNG HUYỀN DIỆU” của Nhà thơ – Đại đức Thích Nhuận Tâm được trình bày ở bìa 4 của tập sách như một lời cảm tạ, ghi nhận sự đóng góp công sức, tâm lực bền bĩ của bậc tu hành đối với nền Văn học quê nhà hôm nay cũng như với nhiều công việc Phật sự thiện nguyện xã hội dành cho người dân Quảng Nam chúng ta.

     “MẸ”. Tuyển thơ Nhiều tác giả, Hội VHNT Thành phố Tam Kỳ phối hợp cùng Chùa Lá – Gò Vấp Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức thực hiện, NXB HNV cấp giấy phép phát hành vào những ngày cuối cùng của năm Giáp Ngọ. Một món quà đạm bạc mà thiêng liêng không chỉ riêng của những người làm thơ góp mặt trong ấn phẩm, mà còn là món quà nặng lòng hiếu kính của tất cả những đứa con chúng ta, dầu đầu xanh tuổi trẻ hay mái phong trần đã đẫm sương đời. Tiếc rằng còn thiếu nhiều những khuôn mặt thơ quen biết hôm nay.
    Cuối cùng, người viết bài này “đọc” được rằng, chỉ gặp nhau ở một chủ đề, một nhân vật trữ tình. Nhưng vượt qua mọi đòi hỏi bức thiết về những tiêu chí sống còn của thơ hôm nay. Người thơ đã có chung nỗi niềm yêu thương khi viết về mẹ. Bên cạnh những tâm sự hồn hậu chân tình, lời sơ mà trí kính, ta còn có thể gặp được nhiều kiến giải mới lạ chứng tỏ sự điêu luyện của thủ pháp biểu hiện và tâm hồn tài hoa thật sự.
     Xin được khép bài viết bằng những chớp lóe độc sáng góp mặt trong tập thơ này:
(Không thể nào nguôi được mẹ ơi) Nguyễn Giúp
“Không thể nào nguôi được mẹ ơi
“Ngày lúa sanh khôn cánh đồng đâu rồi
“Đâu heo may và nụ cười chắc lép
“Đâu cánh chuồn rượt đuổi ngày thơ
“Nhớ chén cơm rang, cá rầm lá nghệ
“Nhớ chiều lên bàng bạc hoàng hôn
“Ngày sắp đến cũng ngày đi chưa hết
“Con vạch trời tìm mẹ… Mẹ ơi!
Và: (Cố hương là mẹ tôi) của nhà thơ Huỳnh Minh Tâm
“Con uống sữa cố hương nằm nôi tre kĩu kịt
“Con rúc vú cố hương đầy đẫy hạt cơm vàng
“Con ngửi tóc cố hương thơm lá chanh lá bưởi
“Con nằm ngực cố hương nghe một giòng sông thao thiết giấc mơ
“….
“Cố hương là điền dã điền trang hoa cúc áo
“Mưa tháng tư tiếng dế ngậm bờ
“Rằm tháng bảy Vu Lan báo hiếu
“Con lạy hàng dừa con lạy đoá sen…”
                                             Tam Kỳ - Đông. Giáp Ngọ
                                                 Nguyễn Đức Dũng

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

Khúc hát lưu dân

Khúc hát lưu dân

Khi ngọn bút khiêm cung Hoàng Triều Cương Thổ
trao truyền cho ta sản nghiệp hình rồng
tựa lưng núi rát mặt trời sóng vỗ
tư thế khởi nguồn tự buổi Thăng Long

Chân chẻ ngón phèn chua thềm lục địa
mà tim hồng dài rộng suốt về nam
mỗi thế hệ hóa phù sa lắng xuống
mỗi cuộc đời bổi hổi rướn xanh lên

Ơi! Ngọn gió nghìn năm chướng khí
quăng quật người đi gầy dựng cơ đồ
ta cúi xuống nấm mồ xưa nín lặng
di chỉ còn khét nắng chan mưa

Ta cúi xuống từng trang văn đẫm lệ
nghe gươm khua giáo dựng vang trời
tiếng xương gãy tiếng máu trào giục giã
đất đai này từ bấy phải sinh sôi

Ta cúi xuống khóc oan khiên tiền kiếp
những trăm năm nuốt hận khôn cùng
những phận số nặng tủi hờn Nguyễn Trãi
những kiếp người rình rập Lệ Chi Viên

Ta cúi xuống lạy lời nguyền mẫu hệ
bọc Âu Cơ nở trăm họ Rồng Tiên
thương giọt mồ hôi đầm đìa trán mẹ
xẻ thịt banh da vượt cạn một mình

Ta cúi xuống ruột gan không chịu thấu
từng lá xanh cứ khắc khoải lìa cành
con trai mẹ như củ khoai trái đậu
nghìn năm âm thầm hôn hít áo khăn

Không ai chọn nơi sinh ra – Thưa Mẹ!
ruộng vườn kia bám rễ núm nhau con
cây phổ hệ theo hành trình mở đất
lại vùi thây cành nhánh quê hương

Cho con chọn chốn trở về - Thưa Mẹ!
khí phách một dáng rồng
                                        ngạo nghễ
                                                         tung bay
làm cơn gió nồm lao xao chuyện kể
hạt phù sa
                lấp lánh
                             núi sông này

Xin quỳ lạy chiếc lá vàng trước ngỏ
con giống cha
vai rộng
đứng ngang trời
tạ ơn mẹ
              mang nặng
                               đẻ đau
                                          ẵm bồng
                                                        bú mớm…
non nước ru hời quanh bốn tao nôi!

                                                    Tam Kỳ 24/5/2014
                                                    Nguyễn Đức Dũng





















Thư ngỏ

                                                                    Thư ngỏ

       Mừng Xuân Ất Mùi năm 2015 và hướng tới “NGÀY THƠ VIỆT NAM Lần thứ XIII”.  Hội VHNT Thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam phối hợp với Chùa Lá – Gò Vấp Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức thực hiện tuyển tập thơ “MẸ”  do NXB HNV cấp giấy phép phát hành.
     Với sự góp mặt của 213 tác giả trên nhiều vùng miền trong cả nước. Bên cạnh những nhà thơ lớn mà tên tuổi và tác phẩm của họ đã góp phần làm nên diện mạo nền thi ca Dân tộc Việt Nam đương đại. Trong tập sách này chúng ta còn được gặp nhiều khuôn mặt thơ quen biết hôm nay vẫn ngày đêm nặng lòng thảo thơm cùng tình yêu cuộc sống, tình yêu gia đình quê hương đất nước thể hiện qua và bằng những cảm nhận tinh tế, giàu cảm xúc, đa dạng giọng điệu. Nếu giá trị nghệ thuật ở những tác phẩm của những tác giả tài hoa đem đến cho bạn đọc sự cảm thụ thông tuệ giàu thẩm mỹ. Thì những bài thơ mộc mạc chân thành được khởi phát từ sự biết ơn thật lòng của một tâm hồn dung dị dành riêng gửi về MẸ,  tuy có vụng về thô cạn nhưng vẫn làm cho ta rưng rưng nỗi niềm chia sẻ. Mới nhận ra rằng trước tình yêu bao la “bú mớm ẵm bồng”,  mọi đứa con đều bình đẳng.  Có thể nói, Tuyển thơ MẸ là một khu vườn trù phú  sắc hương, mỗi tâm hồn là một bông hoa đẹp, nồng đượm chan chứa tình yêu thương dâng lên MẸ. Bằng nhiều cách thể khác nhau, các tác giả đã thay mặt tất thảy tấm lòng những người con hiếu kính bày tỏ sự hàm ơn công đức biển trời của MẸ, của đấng sinh thành đã mang nặng đẻ đau, cưu mang dưỡng dục, suốt một cuộc đời thầm lặng hy sinh tần tảo, nhận lãnh gian khổ để nuôi dạy con cháu nên người. Mỗi người MẸ là một tượng đài lặng lẽ mà uy nghi trong suốt nhớ nghĩ của những đứa con dầu ngày đời còn thơ trẻ hay hoa râm tuổi hạc. Từ bao đời MẸ đã trở thành biểu tượng, thành đại từ nhân xưng chung cho tình mẫu tử, và với từng mỗi đời người biết thấu hiểu,  MẸ hóa nên duy nhất. Với ý nghĩa ấy, tuyển thơ MẸ nhiều tác giả như một món quà đạm bạc mà thiêng liêng không chỉ của những người làm thơ góp mặt trong tập sách này mà còn là món quà của tất cả những người con chúng ta kính dâng lên MẸ.

     Do điều kiện eo hẹp về thời gian và thiếu  thông tin liên lạc, nên trong quá trình tổ chức thực hiện. Ban Tổ chức có thể còn nhiều hạn chế sai sót. Thư ngỏ này là lời cảm ơn trân trọng kính gửi đến gia đìnhtác giả và những tác giả đã góp mặt  trong Tuyển thơ MẸ nhiều ý nghĩa này. Rất mong nhận được sự cảm thông và chia sẻ.
                                                      Thành phố Tam Kỳ - Cuối đông Giáp Ngọ     

                                                                        BAN TUYỂN CHỌN

Dị bản

Dị bản

Chưa chiều đã quíu trống cơm
tuốt sạch lá bưởi gội thơm cả làng
sợ khi bốn mắt hai hàng
họ không chịu ở ra đàng múa may

Ông trời đưng gió mà bay
ai đầu dầu để ruột cây dăm bào
câu lý hủ hỉ bên rào
tơ vương thằng nhện quấn vào trong mơ
con quạ nhiều chuyện bá vơ
bà con chi đó mà chờ…
thì thôi!

Anh ơi chừ khuya hung rồi
để em về chớ họ cười chết em

                                                            Tam Kỳ 15/12/2014

                                                             Nguyễn Đức Dũng

Tình đầu

Tình đầu

     Mùa đông năm 1972 cha con tôi từ Quân Y Viện Quy Nhơn đùm túm nhau về thuê nhà ở phía nam cầu Diêu Trì. Từ đó ngược ra cầu khoảng chưa đến một cây số, đi vào phía trong chừng hơn 2 cây số là đến ngã ba Phú Tài. Cả gia đình "sứt mẻ" chúng tôi sau hoạn nạn ở  căn cứ Bà Gi chui rúc trong một mái hiên cơi nới thêm của một gia đình quân nhân xuất ngũ vì thương tật. Chủ nhà ở phía trong còn chúng tôi ở phía ngoài, cùng chung căn nhà cấp bốn ọp ẹp nằm sát Quốc lộ 1. Vì là mái tole nối hiên nên rất thấp, Ba tôi đi ra vào phải hơi cúi một tý chớ sơ sẩy là đụng đầu, trời mùa đông lạnh cắt da, từ mái tole thấp ấy cứ tí tách những giọt nước như sương do tụ hội hơi ẩm, nhỏ xuống người chúng tôi co ro trong đêm vắng.

     Hằng ngày, Ba lọ mọ đi lo thủ tục để chờ vào Trung tâm II ở Nha Trang giải quyết việc giải ngũ, ông bị thương lần này là lần thứ 3 sau 8 năm mặc áo lính. Nói phải tội, đời lính Pháo Binh của ông chỉ được cái tiếng lính tráng chớ ông không ham hố gì, công việc của ông ở đơn vị chỉ quanh quẩn nấu nướng phục vụ cho bữa ăn của đồng đội, có lần đơn vị đưa ông qua làm trại mộc để đóng giường tủ sử dụng trong tiểu đoàn vì ông vốn khéo tay và giỏi học nghề. Vậy mà rồi chuyện rày đây mai đó cũng không thoát được. Ông kéo cả gia đình chúng tôi đi gần khắp cái khu vực Vùng II Chiến Thuật, hết Duyên hải lại lên Cao nguyên, nhờ vậy mà anh em con nít chúng tôi biết được nhiều nơi, còn rất khoái chí khi mỗi lần được cùng đơn vị thuyên chuyển từ nơi này đến nơi khác.
      Mẹ qua đời cùng 2 thằng em trai của tôi trong lần hoạn nạn đó, không có người vun quén cho gia đình nên lâm vào cảnh khốn cùng, vậy mà biết làm gì hơn khi chúng tôi còn quá nhỏ dại. Rồi mọi đau buồn cũng dần dà phải quen thôi, tôi quanh quẩn trong nhà chán lại sang hàng xóm ngồi tán chuyện tầm phào, mấy thằng bạn nghèo rủ tôi đi bán kem, thế là tôi tham gia vào đội quân bán kem ở ngã ba Phú Tài, có hôm tôi còn ngược lên tận căn cứ Vân Canh để vào bán cho những người quen cũ trong tiểu đoàn, bữa đắt hàng thì nghe hân hoan trong lòng, gặp bữa ế hay đụng phải khách hàng ky bo hách dịch là tôi tự ái không thèm bán nữa, khi vừa đủ vốn là tôi đem hết thùng kem về nhà, đổ cả ra thau cho mấy đứa em tôi và con nít hàng xóm ăn chơi cho bõ tức. Chuyện vui buồn cơm áo cứ thế qua đi, anh em tôi đã vơi bớt nỗi buồn thương về chuyện ra đi của Mẹ và hai người anh em ruột thịt. lứa tuổi con nít không có khả năng lưu giữ lâu hơn nỗi buồn và những mất mát, tuy nhiều lúc vắng lặng anh em lại thút thít với nhau...

       Cuộc sống như con sông cuốn phăng tất cả những gì ở vào giòng chảy của nó, anh em chúng tôi dần dà trở lại là những đứa trẻ con nhem nhuốc và khờ khạo, dầu rằng đó là những đứa trẻ bị thương tổn nặng nề. Bên cạnh, miếng cơm manh áo không cho phép con người cả nghĩ, buộc phải sống và kiếm sống, buộc phải tìm miếng ăn khi đói bụng. Rồi chúng tôi cũng dần hòa vào sinh hoạt chung của xóm làng. Mỗi tối, bên cạnh nhà tôi là điểm tụ tập của cả xóm. Đó là một căn nhà tương đối rộng rãi và chủ nhà cũng dễ tính. Cứ vào tầm chạng vạng, đám con nít chúng tôi kéo đến coi nhờ truyền hình, cái ti vi đen trắng 14inch mà rộng lòng tiếp đãi, mặc bọn trẻ cãi vả trò chuyện om sòm nhưng chú thiếm ấy vẫn vui vẻ, chả trách móc hay phiền hà. Khi những người lớn xong việc ở nhà lục tục kéo đến thì mấy cái ghế đã có người ngồi cả. Tối nào cũng vậy, tôi qua sớm sau khi cơm nước xong, thế nào cũng chiếm một cái ghế dựa để ngồi xí phần, dành chỗ vậy thôi chớ có coi ngó gì đâu, tuổi con nít ham vui nhưng tôi cũng đã lăm le một ý đồ. Cứ chờ cho đến lúc chị Hồng đến mới chịu đứng dậy nhường ghế để chị ngồi, còn tôi thì ra đứng dựa tường, có mấy cô chú khen tôi ngoan biết kính trọng người lớn tuổi. Thật tình thì không phải vậy tuy tôi cũng là đứa trẻ ngoan ngoãn lễ phép, không nghịch ngợm hay hỗn ẩu. Tôi chỉ nhường ghế cho chị Hồng vì Hoa, em gái của chị. Hoa đẹp một cách mặn mà, khuôn mặt bừng sáng và kiểu cách. Hoa có cặp mắt to hút hồn, sống mũi thanh tú và đôi môi đỏ như ăn trầu, mới vào độ mười ba mười bốn mà Hoa đã phát tiết, bộ ngực tròn căng sau làn áo vải, trai tráng trong xóm gặp Hoa là phải chết đắm cái nhìn, hình như Hoa sớm biết lợi thế của mình nên thỉnh thoảng cô bé cũng đưa đẩy chút làm duyên khiến nhiều tên mê mệt. Tôi không nằm ngoài số mê mệt ấy, nhưng tự biết thân phận thua thiệt của mình nên tôi chỉ lặng lẽ một việc làm nhỏ bé để được ngắm nhìn thiên thần mơ ước của mình
      Sau vài lần nhường ghế như vậy thì Hoa đọc được suy nghĩ và gởi gắm của tôi, cô ta cũng làm theo như thế. Không nói với nhau lời nào, cứ vậy, mỗi tối tôi nhường ghế cho chị Hồng còn Hoa thì đợi đến lúc ba tôi sang cô ta mới đứng dậy nhường lại ghế để ba tôi ngồi. Chúng tôi đồng lõa với nhau trong lặng im chua chát, phần vì trẻ con thì biết tỏ bày với nhau như thế nào đây về tình cảm của mình, không khéo hàng xóm họ trêu ghẹo thêm xấu hổ, con nít mà bày đặt yêu đương! Phần tôi tự cảm thấy mình không đủ điều kiện trong khi ở xóm biết bao nhiêu thằng con trai luôn ve vãn bên Hoa, chúng nó ăn đứt tôi về gia cảnh. Tôi đau đớn và hân hoan mỗi tối như vậy, những dằng xé trong lòng của thằng con trai mới lớn chịu nhiều thua thiệt. Tôi vui đó rồi buồn đó. Hoa như một thứ trái cấm thiêng liêng khơi dậy trong tôi niềm thiết tha cuộc sống. Tôi đi bán kem mà trong lòng mở hội, cứ trông cho mau trưa mau chiều mau tối, để về mà ngắm nhìn khuôn mặt đáng yêu kia bằng thứ tình cảm cực kỳ sáng trong vô nhiễm và thánh thiện. Trong tôi, những ý nghĩ tốt đẹp luôn được gán ghép cho Hoa. Hoa là tất cả những gì quý giá trên cõi đời này ngoài gia đình thân yêu của tôi, Hoa là nơi chốn trở thành thiêng liêng như quê kiểng tôi chôn nhau cắt rún. Nói chung, Hoa là tất cả những giá trị mà một thằng con trai ngô nghê như tôi nghĩ ra.
      Chuyện thầm kín của chúng tôi rồi cũng không qua mắt được mọi người, trừ mấy đứa bạn trong xóm đôi khi trêu đùa còn thì người lớn chưa ai chê trách gì, bởi chúng tôi cũng chưa hề làm bất cứ một điều gì tệ hại để họ phải phê phán. Thỉnh thoảng, gặp lúc vắng người, Hoa hỏi tôi vài điều bâng quơ cho có, tôi cũng chỉ ấm ớ mấy câu chẳng đâu vào đâu nhưng trong mắt của tôi và Hoa đã nói với nhau rất nhiều, nhiều lắm, những cái nhìn đầy ý nghĩa, những cái gật đầu nhẹ mà thăng hoa niềm sung sướng bất tận. một tình yêu con nít đã được hai bên thừa nhận. Chỉ vậy, ngoài ra không còn gì nữa, kể cả cái nắm tay cũng chưa từng được nghĩ đến.
     Tôi đi qua ngày tháng lầm than và mất mát của gia đình mình bằng niềm an ủi ấy...

     Đặng xưng, thằng bạn học của tôi từ quê vào ghé chơi. Nói từ quê là vì Bác Triều ba của nó đã được thuyên chuyển về Đà Nẵng từ vài năm trước. Nó đi vào Sài Gòn tìm công ăn việc làm sau khi nghĩ học, bác Triều gái, mẹ của Xưng cũng mất mấy năm trước trong một tai nạ giao thông ở căn cứ Hàm Rồng của Plei Ku. Xưng ra đời sớm nên lọc lõi hơn tôi. Sau mấy ngày ở thăm chơi. Xưng lên được tiếp tục cuộc hành trình. Trước khi đi nó đưa cho tôi một mảnh giấy gấp lại rất vuông vức rồi dặn. Chờ tau đi rồi mày mới được mở ra đọc nghe chưa, chúng tôi chia tay nhau, cuộc chia ly đầu đời của hai thằng bạn nhỏ sớm bị chiến tranh hủy hoại tuổi thơ ngây.
    " Dũng thân! Tau biết mày thương con Hoa, tau không nỡ nói ra sự thật phũ phàng, nhưng vì mày là thằng bạn thân nhất của tau nên buộc lòng tau phải nói. Mày quên con Hoa đi, thế thôi! chúc mày và gia đình khỏe mạnh. Tau Xưng, bạn thân nhất của mày"
     Tôi chẳng còn hiểu gì cả, việc gì đang xảy ra, vừa mới lúc nãy đây thôi, Hoa còn gởi cho tôi cái liếc lịm người kèm theo một cái chu môi kín đáo. Tôi từ chổ coi truyền hình về còn mang theo trong lòng niềm hân hoan tột đỉnh kia mà. Chuyện gì? Chuyện gì? tại sao thằng Xưng lại nói như vậy? Nó mới vào ở chơi có một tuần lễ chớ mấy? Thằng Xưng nói bậy! Tôi ấm ức buột miệng thành tiếng. Mấy đứa em tôi hỏi. Anh nói cái gì vậy? Tôi xẵng giọng. Nóng quá! mấy đứa bây mở luôn cánh cửa kia ra đi? sao cứ mở một cánh như vậy? Số là ở sát đường nên hầu như suốt ngày đêm nàh tôi chỉ mở một cánh cửa thôi cho bớt bụi và tiếng ồn, nhưng lúc này trong tôi đang bức bối, chẳng thể nào chịu được nên mới gắt gỏng với mấy đứa em một cách vô lý như vậy. Trong khi mấy đứa em tôi còn đang ngơ ngác chưa hiểu ra điều gì, tôi vội đến mở luôn cánh cửa còn lại mà lâu nay vẫn quen đóng. Ánh đèn điện từ trong nhà hắt sáng ra một vùng quang đãng. Ôi trời ơi! Từ bên kia vệ đường, Hoa đang ngồi quay lưng vào phía nhà tôi, sát bên là thằng Sơn đang ôm ghì lấy một cách nóng bỏng, hình như hai đứa ngồi đây đã lâu lắm rồi bởi phía trước mặt chúng là một quãng đất trống rộng rãi không có nhà cửa. Nhìn thấy tận mắt cảnh hai đứa âu yếm nhau, tôi nghe sụp đổ một thiên đường bấy lâu thêu dệt và nâng niu gìn giữ, như một thứ của báu đầu đời mà thượng đế đã ân sũng ban phát cho riêng một đứa trẻ lạc loài như tôi. Tôi đứng chết sững mấy phút. Khi phía bên kia đường hai đứa chugns nó phát hiện ra sự việc đã ù té chạy xuống phía dưới xa kia..

      Đêm trăng mười bốn sáng một cách mai mỉa, chênh chếch đằng đông, nhòm hắt vào trước nhà tôi như cợt cười cho thằng trẻ ranh hão huyền và ngu muội. Tôi không khóc được khi lòng đã tan nát. Nước mắt tôi đã vùi sâu đến cạn kiệt dưới mấy nấm mộ của mẹ và hai đứa em trai rồi, giờ chỉ còn nỗi khô đắng tận cùng đang hủy diệt trái tim bé bỏng và u mê của tôi thôi. Không còn hứng thú gì với việc đi coi ké truyền hình bên hàng xóm, tôi ngồi một mình trước hiên nhà, mếu một nụ cười gượng gạo và, như một xúi giục ma quỷ, tôi bắt đầu làm thơ, bài thơ đầu đời của một công thần thất sủng.
      Đêm ấy, dưới mảnh trăng cũng tưởng ngoan hiền như Hoa, tôi bước vào mười bốn tuổi...
                                                                      Tam Kỳ 14/12/2014
                                                                      Nguyễn Đức Dũng

    

Những câu chữ hoa văn

Những câu chữ hoa văn

      Hít thở bầu khí quyển thơ xứ Quảng từ thuở nằm nôi, có lẽ những ầu ơ ví dầu hò khoan hố hợi bớ bậu bớ chàng đã chìm thấm vào tâm hồn một cậu bé sớm chịu khó lắng nghe và chịu khó chịu đựng. Làm sao để lý giải tường minh non nớt kia khi bất chợt chạm khắc vào tầng vỉa văn hóa quê xứ đất đai một dòng thơ vừa quen mà vừa lạ. Quen ở chỗ cũng vốn liếng ấy cũng tình đất tình người ấy lớp đàn anh đàn chị ngâm ngợi mải mê rồi, Cả chẳng thể nào khác được. Lạ là lạ ở nơi thẳm sâu rung cảm kia, Cả lấy chất liệu gì, vết dao vết rìu gì mà chạm khắc nên một “Chạm trổ suy tư” thảng thốt? Khi cái tuổi còn đương độ ăn chưa no lo chưa tới. Đành rằng mười sáu có thể đã sớm biết tơ vương hương tóc con gái bên nhà. Nhưng sự hàm ơn và về những nghĩ suy lớn lao thì đó là một ngạc nhiên đúng nghĩa vậy.
      Thơ ở thành phố Tam Kỳ Quảng Nam từ ngày xuất hiện cái tên Nguyễn Tấn Cả, một học trò nghèo trường huyện đã có thêm một thuật ngữ mới trong hàn huyên thơ phú. “Hòn tháp có chân”… Cả viết về người kiến trúc sư Ba Lan Kazik bỏ cả cuộc đời xa lìa quê hương để đến đất nước nhiệt đới này mà “Râu tóc ông quệt xót lòng thánh địa…”, Cả nói hộ với ông về lòng hàm ơn của con dân chúng ta bằng những rung cảm mãnh liệt “Con dơi buồn kêu nhỏ máu hoàng hôn”.
      Ghê gớm thay cho vầng trán trẻ nít kia, dung chứa điều gì trong nếp nghĩ…
      Nguyễn Tấn Cả là một thân phận sớm thiệt thòi, sớm nhận biết được giá trị sống qua miếng cơm manh áo, sớm thấu hiểu thế nào là tình thâm máu mủ khi kêu lên “Hiền Lương còn một nhịp này- Thưa Cha…” Nguyễn Tấn Cả lủi thủi “Tôi bắn bi mù u vào vòng đời oan nghiệt/ tự mình đi lượm… tự mình lăn” .Câu thơ rưng rưng chực hờ trên mắt người đọc, Cả chin chắn già dặn hơn nhiều lần cái tuổi trời cho khi “Em nâng duyên nợ trên đầu/ để cho chị bước qua cầu vững tin”. “Em ngồi tỉ mẩn xắt gừng/ Cay vào thuở chị chưa từng xa em”. Cứ mỗi lần tôi nghĩ đến mấy câu thơ này là mỗi lần lòng tôi dấy động một sớt chia, có lẽ đồng cảnh tương thân chăng? Hay tôi ủy mị? Nhưng điều gì khiến cho lòng ta chợt nổi lên tình thương cảm nếu không phải vì năng lực có thật của nghệ thuật thăng hoa, khơi gợi được niềm tri âm tri kỷ? Cả đã làm được gì và đi đến đâu trong thơ hôm nay? Và điều gì đã làm cho Cả già đi so với cái tuổi của mình? Điều gì đã xóa sổ cái tuổi thơ ngây khờ dại mà thần tiên của đứa trẻ này? Chiến tranh ư? Đói nghèo ư? Ly tán ư?

     Làm thơ sớm, trưởng thành sớm, vậy mà Nguyễn Tấn cả cứ lặng lẽ một nỗi mình giữa xô bồ đời sống, hình như có điều gì cần nói Cả đã nói hết trong thơ rồi. Chẳng vậy mà Cả đã rút tỉa được rất nhiều ý nghĩa của cuộc đời. Anh khái quát nghe đến đớn đau “Bàn tay phóng sinh/ bàn tay đánh bẩy…”. Thơ Cả là thơ của những suy niệm dằn vặt đời người, là tiếng nói của những đúc kết nhiều triết luận, ở đó vừa gợi mở vừa khai phóng sức bùng nổ của câu chữ đã được dồn nén đến mức cuối cùng

     Tôi nhớ một lần tôi, Thảo Nguyên và Đỗ Thượng Thế ngồi chuyện gẫu về thơ ở một quán cà phê làng tại thôn 5 Duy Trung Duy Xuyên. Chuyện thơ viết về đề tài Mỹ Sơn, một khu Thánh Địa Chăm nổi tiếng cả thế giới tọa lạc tại vùng núi Quắm thuộc huyện Duy Xuyên. Thế nói thơ về Mỹ Sơn anh em văn nghệ quê mình viết rất hay, vì chúng ta là con dân xứ Quảng, là chủ nhân của di tích, chúng ta gần như ăn nằm máu thịt với di tích, Thế lại nói thơ tôi là những đường diềm trên tháp cổ, đại khái câu chuyện rất dài về Mỹ Sơn. Sau này nhà thơ nguyễn Tấn Sỹ cũng có bài thơ “Chiều qua cổ tháp” rất tài hoa, xứng đáng là bài thơ hay nhất viết về đề tài này của anh em văn nghệ xứ Quảng.
     Khi Nguyễn Tấn Cả công bố bài thơ “Chạm trổ suy tư” mà sau này dùng cái tựa ấy làm tên chung cho tập thơ đầu tay của mình. Anh em làm thơ hết sức ngạc nhiên và thú vỵ bởi  cái tài của một cậu bé 16 tuổi. Có thể làm nhớ lại cái tuổi 16 của Chế Lan Viên ngày xưa từng bàng hoàng cả trời thơ Việt qua tác phẩm “Điêu tàn”. Tuy vậy vẫn chưa nói lên điều gì cho mai sau bởi rất nhiều “Năng khiếu” sớm lụi tàn vì những ngộ nhận. Anh em vẫn có chút lo âu và đợi chờ ở Cả. Cũng có lúc Cả rơi vào phù phiếm lệch lạc, may thay, nhờ tính tình khiêm hậu và chịu thương chịu khó, nhờ sự trải nghiệm thực tế đắng cay về cuộc tồn sinh. Cả vụt lớn lên từng ngày trong mắt anh em bạn bè làm thơ quê nhà. Những bài thơ sau này của Cả làm xốn xang người đọc, làm thao thức nhân tâm, chẳng biết tác giả lấy ở đâu cái chất liệu của cuộc đời mà viết nên những câu chữ đằmg đằm truy vấn và suy nghĩ. Đọc Nguyễn Tấn Cả hôm nay, tôi lại chợt hình dung ra những hoa văn chạm trổ trên những mảng tường cổ tháp, đẹp, tinh xảo , điêu luyện và nhiều gửi gắm…

     “CHẠM TRỔ SUY TƯ” tập thơ đầu tay của Nguyễn Tấn Cả, Hội viên Hội VHNT Quảng Nam vừa được NXB HNV cấp giấy phép phát hành vào đầu quý 4 năm 2014 sẽ đem đến cho bạn đọc nhiều cảm nhận thú vỵ. Xin trân trọng sẻ chia cùng bạn yêu thơ
                                                                         Tam Kỳ 14/12/2014

                                                                         Nguyễn Đức Dũng

Đồng nghĩa

Đồng nghĩa

Lột bỏ lớp vỏ sù sì ảm đạm
anh mở lòng hân hoan đón em
tiếng cười sớm mai trong trẻo
hạt sương reo vui đầu cành
giọt nắng nhảy múa

này ngọn gió tinh khiết
gội rửa muộn phiền
những lo toan bu bám
mười đầu ngón tay mòn vẹt áo cơm

này mầu nhiệm xiết bao
thanh tẩy làm đứa trẻ lên năm lên mười
xúng xính áo đẹp
tung tăng trái tim
anh rộn ràng lễ hội

háo hức giao thừa mừng tuổi
từ em một đóa môi cười

trước ban mai nguyên khôi diệu kỳ
hiện thân của tất thảy tươi mới
ròng ròng nhựa ấm
Em!
đồng nghĩa với Xuân.

                                                                       Đông 2014

                                                                    Nguyễn Đức Dũng