Hiển thị các bài đăng có nhãn tạp bút. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tạp bút. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

Bạn tôi “làm thơ”

Bạn tôi “làm thơ”
                                                                                                             Tạp bút
     Cũng nhờ ham mê thơ phú mà tôi có cơ may quen biết với hầu hết anh chị em làm thơ, viết văn xứ Quảng. Từ những tên tuổi tài hoa như Phùng Tấn Đông, Huỳnh Minh Tâm, Đỗ Thượng Thế,  Nguyễn Tấn Sỹ, Trương Vũ Thiên An, Nguyễn Tấn Cả, Nguyễn Thị Phương Dung, Nguyễn Hải Triều v.v…Đến những thân thi hữu sinh hoạt trong các CLB thơ trên khắp tỉnh nhà. Qua đó, tôi dần dà rút tỉa, học hỏi được nhiều điều thật sự hữu ích cho trang viết của mình. Từ đọc những trang thơ bè bạn, đến những lần đàn đúm bên chén trà cuộc rượu mạn đàm thơ phú. Tâm sự, chuyện trò đổi trao thậm chí tranh cãi gay gắt về những vấn đề liên quan đến thơ hôm nay.
     Đành như thiên hạ vẫn rằng:”Văn mình vợ người” không ai “dạy” cho ai làm thơ viết văn cả. Thế nhưng người làm thơ viết văn hôm nay, theo tôi thì phải học hỏi cả đời! tưởng như học cả đến lúc buông một tiếng “Được” nhẹ nhõm của cụ Tố Như.

     Mỗi người làm thơ, ngoài sở trường sở đoản, sự quan tâm về đề tài, vùng miền quen thuộc để hướng tới sự khai phá, đến phương cách thể hiện, biểu đạt nhằm hình thành nên bút pháp, phong cách và cá tính sáng tạo riêng biệt. Đã phải dò dẫm hao tâm tổn lực rất nhiều. Thức đêm sâu mắt, trăn trở bạc đầu cũng chỉ mong điều mình viết ra nên hình nên dạng.
     Trong số những tác giả đã khẳng định được tên tuổi vị trí của mình giữa chiếu thơ hôm nay, có thể nói rằng chính thái độ trách nhiệm của mỗi người trước trang viết mới góp phần làm nên thành công ấy.
     Đọc Phùng Tấn Đông, không thể không thống khoái ở mỗi bài thơ anh viết ra. Ngoài tài hoa vốn có, anh còn là người thuộc dạng cực kỳ khó tính với chính mình, anh đòi hỏi cao ở mỗi điều anh viết, mỗi trở trăn náo động tâm can và dằng xé tri thức. Chẳng lạ, khi vài ba năm hoặc lâu hơn nữa mới thấy xuất hiện một thi phẩm trình làng của tác giả này…Đó là cái giá rất xứng đáng để đánh đổi. Gần Phùng Tấn Đông nhất có thể kể đến Đỗ Thượng Thế. Thơ Thế thuộc dạng “khó đọc nhưng dễ cảm”. Bắt nguồn từ những đề tài gần gũi quen thuộc, Thế viết về con trâu, cái cày, về tuổi thơ lam lũ ở quê nghèo, về gia đình bản quán và những ưu tư của cuộc sống hôm nay. Vẫn những vấn đề mà người làm thơ nào cũng quan tâm, đào xới , nhưng với Đỗ Thượng Thế thì khác. Luôn tìm tòi, làm mới, lạ hóa, nói chung là ”Viết như thế nào” mới là điều anh bận lòng nhất. Cách làm thơ của Thế có một không hai, phải nói là “Kỳ khu”. Anh vật ngữa lật nghiêng từng con chữ, cầm lên đặt xuống chán chê mê mỏi vẫn chưa chịu gật gù, khó có ai “làm theo” anh được. Trước một tứ thơ hình thành, Thế dọn mình thanh thản và bắt đầu viết khi đêm đã rất khuya. Có khi trình bày bằng thể lục bát nhuần nhuyễn quen thuộc. Sau nhiều lần sửa chữa biên tập hoàn chỉnh, anh “xếp” bài thơ lại, để đó. Hôm sau, anh “tháo” bài thơ đã “hoàn thành” ấy ra và “làm lại” bằng thể 5,6 hoặc 7,8 chữ. Kỳ cho thật tròn trịa tưởng có thể gửi ngay đến tòa soạn. Nhưng không! Anh tiếp tục “xếp” lại và chờ…Hôm khác, anh lại tháo tiếp bài thơ “thứ hai” ra và tiếp tục “làm lại” bằng một thể thơ phóng túng bất kể câu chữ vần điệu. Chỉ duy nhất chuyên tâm vào giữ mỗi cái tứ thơ ban đầu. Lúc này, anh đem các “bản thảo bài thơ kia” ra đặt chúng cạnh nhau, săm soi cân nhắc và chọn một bản thật sự ưng ý, thật sự trọn vẹn, chỉ đến lúc ấy Đỗ Thượng Thế mới bằng lòng về tác phẩm của mình. Chơi thân với anh, tôi học tập được rất nhiều điều, từ cách lập tứ, chọn chữ, làm câu cho đến bố cục một bài viết, và quan trọng nhất là tôi học ở Thế thái độ đối với thơ, trách nhiệm trước trang viết của mình. Có lần anh góp ý với tôi về thơ bằng một câu chuyện đi ăn đám giỗ dẫn theo thằng cháu nhỏ, đứa trẻ ngồi vào mâm thì không tiện vì nó quậy phá thực khách, vung vẫy đũa muỗng lung tung, mà để nó quẩn chân sau lưng cũng phiền, trong khi nó cũng chẳng “ăn uống” bao nhiêu. Liên hệ vào thơ, là những từ những câu chữ “ăn theo”, “dẫn theo” dư ý thừa lời rậm đám không cần thiết. Sau này nhà thơ Phùng Tấn Đông cũng góp ý cho tôi đại khái như vậy. Phải nói, Đỗ Thượng Thế “vật lộn” thậm chí “đánh lộn” với chữ nghĩa từng đêm, từng đêm khuya khoắt để có được từng bài thơ trình làng tươi ròng sức sống. Một cách làm việc đáng trân trọng.
     Một nhà thơ cũng của Điện Bàn trước đây được anh em gọi vui là “Phù thủy chữ”. Nguyễn Hàn Chung. Với anh, cách làm thơ lại rất “tốn kém”. Anh luôn mua trữ sẵn trong nhà hàng chồng giấy kẽ ngang. Cứ mỗi bài thơ anh làm, anh nắn nót sao chép thật sạch đẹp từ tờ đầu tiên đến những tờ kế tiếp. Mỗi lần sao chép như vậy lại nảy ra được một ý hay, một chữ đắc, thậm chí một dấu chấm câu…Cứ vậy, bài thơ chỉ được anh chấp thuận khi đã sao chép bằng hết tập giấy kẽ ngang kia. Mỗi bài thơ một tập. Tính ra mỗi năm Nguyễn Hàn Chung phải bỏ tiền túi đế mua hàng tạ giấy để làm thơ…!
     Trường hợp tác giả của bài thơ “Bóng làng” nổi tiếng ở Đại Lộc lại rất mực nhàn du tiêu sái. Anh kể, và anh em cũng đã xác nhận. Thói quen làm thơ của anh ai nghe cũng phát thèm nhưng khó có điều kiện học tập. Cứ mỗi lần xuất hiện một tứ thơ mới. Anh pha một ấm trà ngon bày biện án thư ra góc hiên nhà, chậm rải thưởng một ngụm trà rồi bắt đầu viết. Được vài câu, anh dừng lại suy nghĩ. Đứng dậy vác cuốc ra vườn dẫy cỏ vun gốc những cây trái quanh vườn, vừa cuốc vừa “tư duy” thơ, được câu nào chữ nào đắc ý, anh dựng cuốc chạy vào bàn ngồi viết tiếp, cứ thế chẳng kể thời gian trôi qua trưa sớm thế nào, đến khi bài thơ hoàn thành mới thôi. Đó là cách làm thơ của nhà thơ Ngô Hà Phương vậy.
      Mấy năm sau này, cứ mỗi lần nhận được điện thoại của nhà thơ Lê Trường Long quê Tiên Phước mời uống cà phê, là biết ngay anh có bài thơ mới. Vốn tính khiêm tốn, chịu khó lắng nghe, Long đưa bài thơ của mình nhờ bạn bè đọc hộ và săm soi giúp, nhằm tìm ra được những chỗ thô vụng, góp ý cho anh sửa chữa. Long luôn vui vẻ trước những điều khen tiếng chê của anh em, nhờ vậy không khí thâm giao rất nồng đượm. Tạo ra nguồn hưng phấn động viên nhau sáng tác.
      Bên cạnh những đặc điểm hết sức riêng tư của công việc sáng tạo. góp ý phê bình, trao đổi kinh nghiệm là điều cực kỳ cần thiết đối với Văn nghệ sỹ, nhất là với người làm thơ. Tuy nhiên cũng đã từng có những chuyện cười ra nước mắt. Đó là một số ít anh em làm thơ cứ “khư khư” “văn mình” nên cũng đã có chuyện không vừa lòng nhau qua những góp ý phê bình. Âu đó đành phó cho nguyên do “Nhân sinh quý thích chí” chứ biết sao đươc!

     Điều cuối cùng nên lưu tâm là để có được một tác phẩm thơ nhận được sẻ chia của mọi người, an ủi được chút ít buồn vui nhân thế. Người làm thơ hôm nay không thể cứ mãi cái cách “Được chăng hay chớ”, tự thỏa mãn, đong lúa non, đưa ra những bài viết chưa thật sự “Nên hình” rồi xúm xít khen ngợi lung tung thiếu trung thực, giả mù sa mưa đẩy cây nhau đến chỗ “cùng chìm”. Ông bà ta có câu: “ Người khôn của khó” vận dụng vào thơ hôm nay rất thời sự. Bởi những “vùng miền thi ca trù phú”, những đề tài quen thuộc, ngay cả phương cách làm thơ, các trường phái, trào lưu v.v… đều đã được những thế hệ trước ta cày xới quá nhiều rồi. Hôm nay, người làm thơ khi bổ nhát cuốc vào đâu với hy vọng “tìm tòi” cũng đều bắt gặp những áng sử thi huy hoàng đã làm nên một nền thi ca rực rỡ. Nên chi, để có được vài câu gọi là thơ bây giờ mà nhâm nhi với nhau bên chén trà cuộc rượu trước buổi đông tàn xuân đến tưởng chẳng dễ dàng gì nếu thiếu đi cái tâm thế nghiêm cẩn và sự nỗ lực không ngừng nhằm tìm ra được sự riêng biệt ở mỗi tác giả.

                                                                                                Tam Kỳ Mùa đông 2014
                                                                                                 Nguyễn Đức Dũng


Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

Xâu bánh lỳ xì

Xâu bánh lỳ xì
Tạp bút

Cho đến tận bây giờ, lúc đã qua cái tuổi năm mươi hơn nửa đoạn đường, vậy mà mỗi khi những ngày tháng cuối cùng của một năm sắp sửa qua đi, khi mà sự tất bật của đời sống cứ hối thúc một chu kỳ sắp mãn, con người, ai ai không kể giàu nghèo, không nệ lớn bé, ở mỗi lòng người lại nao nao hồi niệm về những tháng ngày xa xưa nhất đã trầm tích lại trong nhớ nghĩ những kỷ niệm vui buồn, những hân hoan rạo rực, những đợi chờ hy vọng cho một lần xuân đến. Tôi cũng vậy.
Còn nhớ, đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước, khi mà sự yên bình hãy còn hiện diện đây đó trên những ngôi làng ấm áp, thì mỗi bận xuân về tết đến, cả làng lại được dịp náo nức để chuẩn bị đón một mùa xuân mới tràn đầy những hy vọng và mơ ước, hy vọng rồi đây qua giêng sẽ có một năm bội thu mùa màng, khoai lúa sẽ kĩu kịt vai người rôm rã những con đường rợp bóng tre xanh, khoai lúa sẽ râm ran chuyện trò trên những mặt người đã mướt mồ hôi đồng áng, và trong khắp đầu làng ngõ xóm, từng âm thanh lao xao cứ dài theo suốt những con đường, mọi người dọn dẹp quét tướt nhà cửa vườn tược, sửa lại cái hàng rào đã mòn vẹt những lần hàng xóm tiện chân tạt qua nhà xin chút lửa, kể lễ một câu chuyện bất chợt vừa nghe đâu đó ở xóm trên, hay chạy tắt cho nhanh những khi trái gió trở trời tối lửa tắt đèn, cột lại cái cỗng ngõ đã xệch xoạc sau mỗi ngày đóng mở, vun hàng vạn thọ trước sân đang kỳ đơm nụ và đây đó còn những cụ già hoài cổ đang bận bịu cùng con cháu chăm chút cây nêu trước sân nhà, ôi cái không gian ấy đã trùm khắp đất trời và lan tỏa vào mỗi tâm hồn người, thì vui sướng nhứt vẫn là những lứa trẻ thơ cứ tưng bừng một mùa lễ hội.
Không hẹn mà đã như thành lệ, trong những món sắm sửa đón xuân, nhà nào cũng chuẩn bị gói một số bánh ú nếp, nhiều thì một đôi thúng ba ang, nhà ít cũng phải tròm trèm vun ngọn một thúng. Sau khi nấu xong được chia sẵn làm hai phần mạch lạc rồi lồng vào chiếc gióng mây mà treo lên trang trọng dưới mái nhà. Bánh ú là loại bánh cổ truyền chẳng biết đã được ra đời tự khi nào, chỉ cứ thấy mỗi lần xuân về tết đến hay thỉnh thoảng các kỳ tế lễ giỗ chạp đều xuất hiện, nó đi theo từng thế hệ đời người vào những dịp thiêng liêng nhất. Nhìn bên ngoài thì bánh của nhà nào cũng na na giống nhau, cũng gói bằng loại nếp ngon mà gia đình đã chuẩn bị từ trong năm, cũng cái bánh bốn góc gói lá chuối cột lạt xinh xinh vừa bằng nắm tay đứa trẻ, ấy vậy mà bên trong nó biểu hiện rất phong phú từng gia cảnh của mỗi mái nhà, có nhà gói bánh nhưn đậu xanh và thịt heo, có nhà gói chỉ đậu xanh mà không thịt thà chi hết, có nhà lại dùng đậu đen làm nhưn, nhưng có nhà lại xuề xòa hơn khi trộn lẫn đậu đen với nếp rồi gói luôn một lần cho tiện, những khác biệt trên nói lên điều kiện kinh tế của mỗi gia đình và nó cũng cho thấy phần nào tâm tính của mỗi gia chủ.
Bánh được gói từng chiếc một, sau đó người ta dùng một sợi lạt xâu lại cứ năm chiếc thành một tay bánh, và cuối cùng gút hai đầu nút lạt của hai tay bánh thành một xâu, như vậy mỗi xâu bánh có mười chiếc. tất cả bỏ vào nồi và nấu lên vào độ những ngày cuối cùng của năm, nhà nào bận bịu thì thường nấu vào tối ngày hai mươi chín tết để kịp cho số bánh tét nấu chung được chín vào lúc trước giao thừa. Bánh ú trước tiên dùng để bày biện cúng tế đất trời và gia tiên trong những ngày tết nhứt, và một trong cái phần đã chia hai mạch lạc nói trên được dùng vào việc mừng tuổi chúc tết cho trẻ đến thăm nhà.
Hồi ấy ở nông thôn làm gì có nhiều tiền mặt và người ta cũng không có cái lệ lì xì cho trẻ bằng tiền giống như bây giờ, tất tần tật là lời chúc chân tình của chủ nhà dành cho trẻ khi theo cha mẹ đến thăm, ai cũng mong muốn cho trẻ mau ăn chóng lớn, học hành tấn tới và trở thành con ngoan trò giỏi, hết lòng hiếu thảo với ông bà cha mẹ cũng như biết kính trọng vâng lời khuyên bảo của người lớn ở trong chòm xóm, tặng vật mừng tuổi được kèm theo chỉ là quà bánh cây nhà lá vườn và dứt khoát là không thể thiếu mấy cái bánh ú của cái phần đã dành sẵn, bởi không ai nỡ lấy số bánh đã cúng xong để mừng tuổi vì cho rằng như thế nó thiếu đi sự linh nghiệm của sự chúc mừng, cứ vậy mà thân sơ cũng biểu hiện rõ qua số bánh “lỳ xì”. Bà con gần gũi hoặc hai nhà thân tình thì mỗi đứa trẻ được mừng tuổi đúng một “xâu bánh”, nếu quen biết theo kiểu hàng xóm láng giềng thì mừng tuổi cho trẻ một “tay bánh”, và gặp phải chủ nhà nghèo khó hoặc trúng tay chắc lép thì cũng phải rứt ra mà “lỳ xì” cho trẻ vài cái cho nó có lệ. Cứ thế mà bánh được quàng lên cổ đứa trẻ rồi bỏ thỏng đều qua hai vai bằng sợi lạt xâu ấy, như hôm nay người ta đeo vòng hoa vào những người được vinh danh trong các cuộc thi, để chùm bánh cứ nặng trĩu và va đập vào hai bên ngực của đứa trẻ tung tăng chân sáo đi thăm hết nhà này đến nhà khác, như một niềm hân hoan vui sướng đến cực độ bởi được mặc bộ quần áo đẹp, được đi chơi và sự quan trọng nhất là được mừng thêm một tuổi.
Ấy vậy mà…
Năm nay nghe đâu lập xuân sớm, ấy vậy mà sao lòng mình cứ phân vân một điều gì đấy mơ hồ không hình dáng, không tên gọi. Có lẽ đấy là sự mai một những điều giản dị mà tốt đẹp, có lẽ đấy là sự tiếc nuối một thời tung tăng thơ trẻ với xâu bánh ú ngày xuân hiền ngoan trên ngực đã vĩnh viễn trở thành chuyện kể chẳng còn ai thiết tha nghe nữa.
Cứ ước giá như…
Tam Kỳ trọng đông Nhâm Thìn
Nguyễn Đức Dũng