Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

NGUYỄN MẬU HÙNG KIỆT - Người về "Áo giấy cho sông"


Người về "Áo giấy cho sông"(*)




Nguyễn Đức Dũng không thuộc típ người phiêu bạt, giang hồ, lãng tử. Thế nhưng do yêu cầu công việc của một thợ cầu đường, suốt một thời trai trẻ, anh phải sống rày đây, mai đó. Đôi chân anh đã đi qua “trùng điệp” những tên đất, tên làng. “Cuộc đời rủ rê câu thơ và anh vào trò rồng rắn/ đi hoài chưa gặp nổi mình/ cuộc đời di thực anh và câu thơ cùng khắp/ như trẻ vô tư trồng nụ cười vào đất... Câu thơ rồi cũng như anh lang bạt kỳ hồ/ chưa biết mình đang ở đâu chợt quên chợt nhớ" (Dặm dài). Nổi nênh phận người giữa cuộc đời dâu bể, Nguyễn Đức Dũng đành phải làm một kẻ tha hương bất đắc dĩ (dẫu anh vẫn sống ngay trên mảnh đất quê nhà). Chính vì vậy mà con người anh và thơ anh cứ đau đáu tìm về bến quê của đời người; luôn hướng vọng về phía quê cha, đất tổ; thèm khát được ngụp lặn, tắm táp, quẫy đạp trong dòng sông trẻ dại.
Về quê! Với anh là cuộc quay về trên hành trình tìm kiếm “cái tôi” khi anh ngộ ra "Có những phận đời duyên nợ chẳng nên chi/ Có những phận đời lơ ngơ cơm áo/ Có những phận đời vay giông góp bão/ biền biệt xa khuất bóng quê nhà" (Nỗi quê).
"Áo giấy cho sông" là tập thơ được Nguyễn Đức Dũng chưng cất từ những nỗi niềm quê kiểng dâng tặng quê nhà. Có thể nói, đây là một tập hợp được anh chọn lựa khá kỹ lưỡng, cẩn trọng, thành kính, thiêng liêng chẳng khác nào người ta bày biện một mâm lễ cúng. Mà đúng vậy, chẳng phải ngẫu nhiên anh chọn tiêu đề tập thơ như thế nếu không có chủ đích: "bày biện tấm lòng đứa trẻ đã hoa râm/ như hương như lễ/ bảng lảng khói trầm/ bày biện vàng mã ngoằn ngoèo hoạ tiết..." để được thổn thức, giãi bày trước vong linh làng mạc, ông bà, cha mẹ:
Về quê thắp một lòng hương khói
Một đời áo giấy đốt cho sông
Đem hồn hoa cỏ này xin chuộc
Một tiếng chèo khuya, khuấy giữa dòng…
(Tứ tuyệt sông)
"Thế gian biến cải vũng nên đồi", mất đi một khúc sông, một bến quê không là chuyện lạ. Thế nhưng "khúc sông" của anh lại mang nhiều ý nghĩa tâm linh trong dòng thời gian bất tận. Vẫn biết vòng tuần hoàn của tháng năm như nhịp ru đều đặn vẫn không thể giấu nổi một hình hài lớn lên, già đi và vắng bóng. Thấu hiểu cái quy luật nghiệt ngã của tạo hóa, ý thức mình là một đoạn đứt gãy trong vòng tròn ấy, anh đã tìm cách xuyên thủng "vòng kim cô" thời gian bằng muôn vàn sự ký thác tâm trạng. Đó là tâm trạng của một kẻ ly hương "cứ nằng nặc quay về/ Da đen sạm phù sa đi cùng trời cuối đất/ Mà chùa chiền chỉ một phía sông quê!" (Chỉ nói riêng với con); tâm trạng của một đứa con "Lỡ một trời phiêu giạt lông bông" lại "Đau đáu thanh minh/ rềnh rang giỗ kỵ/ Chẳng nguôi khuây chút thẹn giấu bên lòng" (Tư Phú); tâm trạng của một thằng tôi "Thương một đoạn đời trần truồng xanh trong/ giật mình con cá quậy/ mênh mông người ta thì chảy/ phiên tôi cởi áo cạn dòng." (Nơi xưa đã từng sông)...
Anh ủ ấp "ký ức cởi truồng" bằng nỗi nhớ thương da diết tháng ngày khốn khó và bằng tấm lòng tri ân công đức sinh thành. Anh luôn thấy mình "là con nợ của nhà nông/ con nợ ruộng đồng/ bóng cò/ bóng vạc.../ nợ tự trong nôi/ tới hồi tóc bạc/ một đời,/ vun ngọn... không vơi!" (Nợ phù sa) nên không tránh khỏi những trăn trở, day dứt "Bạc đầu con đắn đo thơ/ Trả không xuể,/ Nợ./ Ngày chưa... đánh vần" (Cơn mưa của mẹ) và nhiều khi còn thoáng chút ngậm ngùi, trắc ẩn "Khi ta biết ta còn nguồn để nhớ/ buổi trần ai đã lợp trắng đầu/ trăm năm đó không vay cũng nợ/ trả bao giờ cho kịp xưa sau?" (Khúc giang đầu)
Yêu đến đớn đau quê nhà, anh cố giữ lấy một giọng quê rặc Quảng Nam, chơn chất, thiệt thà. Và có lẽ, đó cũng là điều anh tâm niệm: "Còn đây tháng rộng năm dài/ thưa rằng: con trẻ giữ hoài giọng quê" (Giọng quê). Anh sử dụng khá nhuần nhuyễn phương ngữ Quảng Nam và cách nghĩ, cách nói, cách thể hiện cũng đậm chất mặn mòi của người dân xứ Quảng:
Từng lưu tán mấy trời cơm gạo
Vẫn nôm na giọng đặc Thu Bồn
Mặc gai góc tróc trầy danh phận
Lấy nỗi niềm quê kiểng kéo da non
(Chỉ nói riêng với con)
Với tác phẩm văn học, hình thức nghệ thuật không chỉ là từ ngữ, những hình ảnh mà xuyên qua những cái đó là thế giới tinh thần. Nói vậy để thấy rằng bên trong lớp vỏ ngôn từ ấy là thế giới nội tâm của anh và cả quan niệm của anh về cuộc sống, con người. Mất đi một đoạn sông, với anh, là mất đi một cái gì đó thiêng liêng của đời người. Bởi anh quan niệm "đó là nơi tôi hằng tâm phát nguyện phụng thờ như chùa chiền, để cố tự ràng buộc mình bằng một sợ dây tâm linh hối lỗi, để nhớ rằng nơi đây cha ông đã phát tích sinh cơ rồi truyền đời cho con cháu anh em chúng tôi bây giờ tắm gội" (Thay lời tựa). Và như thế, ta hiểu được những thổn thức, những nấc nghẹn của anh một khi "đời người vuốt mặt đời sông"!
"Sự phát khởi của thơ là lòng người" (Lê Quí Đôn). Một trong những đặc điểm chính của thơ là bộc lộ cảm xúc một cách mãnh liệt. Anh Nguyễn Đức Dũng đã chạm đến cõi thơ bằng những xúc cảm chân thành. Nói như một anh bạn: thơ hay ở chỗ lòng người trong vắt, ở chỗ chân thật, biết trân trọng, yêu quí con người, cuộc sống, dẫu đôi lúc phải cắn bầm nát môi. Anh xứng đáng nhận những lời "có cánh" đó. Tôi thiết nghĩ, nếu anh biết tiết chế cảm xúc hơn một chút và đừng quá tô đậm chất Quảng Nam thì thơ anh sẽ nhẹ nhàng thăng hoa cất cánh.
Xin được chia vui cùng anh – người anh, người bạn thơ "nghinh ngang" cô độc của Hội Văn học – Nghệ thuật Quảng Nam!
Hè 2009
-------------------
(*) Áo giấy cho sông – Nguyễn Đức Dũng – NXB Hội Văn nghệ, 2009
1780 từ viết bởi: maukiet •Ghi cảm nhận





Đất quê




                                                                       “ kính hương hồn Cha một đời gian truân “
Trôi xa xứ suốt thời trai trẻ
lông bông không cửa không nhà
âm ỉ nắm tro quê kiểng
từng chiều ngoáy cổ trời xa
đi nửa đoạn mà ra người nửa phận
nửa bầy con lôi thôi
đứa tật ,
đứa khờ...
nửa sương khói xanh suông vào cây cỏ
nửa còn
mộng mị …hời quê !
quê mộng mị ngày gạo châu củi quế
ngày con áo khăn đuổi gió ngang trời
ngày con thả trôi hạt hạt phù sa lở mắt già xót đất
chiều ra sông,
ngùi ngùi !
ngó sông...
đêm nhận được tin cha trả cõi
con rồi nên bão nên giông
chân thấp chân cao mong về gặp mặt
chờ trơ nấm đất không tròn !
quày quả nuột lạt neo mình quày quả lòng xưa ấy
quày quả lứa măng dưới ngờm ngợp sinh thành
con chiếc nan tre,
hẹn cánh diều cho trẻ
đất này thắp khói mà xanh …
Đêm Điện Bàn 7-2001
Tam Kỳ 10- 02-2009
Nguyễn Đức Dũng


cầu Đường sắt Kỳ Lam


Hát trên cánh đồng

o Hát trên cánh đồng
“ Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
“ khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn …
CLV.

Cứ cày xới lên đi những đường cày nông choèn càng sâu càng bạc màu của cát
cứ cày xới lên đi những đường cày trên trán mấy đời tủi cực
ta lầm lỳ cúi xuống giấc mơ xanh .

Cứ kệ đời cày xới những toan tính thiệt hơn
vãi vào nhau những gánh phân buồn .
gặp lúc nghịch trời đêm khua mắc cửi
dệt ngày ấm áo no cơm .

Từng thế hệ mẹ cha cặm cụi với đồng
lưng áo mồ hôi vẽ bản đồ mộng mị
sấp ngửa nẻo bờ ngoằn ngoèo chắp vá ,
chông chênh manh mún phận người …

Xin dõng dạc lên nào thất bát ta ơi !
này quanh co bậc thang này đường cày úp mặt .
Mẹ đẻ rớt ta vào văn minh lúa nước ,
nên khó nghèo vẫn thương đất không nguôi .
Duy Trung 11-12-2004
Nguyễn Đức Dũng
Thu Bồn nhìn từ cầu Kỳ Lam

Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2013

Từ những cung đường - (Phần II)

Từ những cung đường - (Phần II)
Ghi chép
Đặt chân lên được thị tứ Trung Phước của huyện Nông Sơn mất hơn hai tiếng rưỡi đồng hồ, thay vì chỉ cần non nửa giờ nếu như con đường được đúng như tên gọi. Hú vía! Có lẽ nhờ vào sự phù hộ độ trì của những vị thần cai quản bổn xứ linh thiêng thương tưởng. Dọc trên đường đèo, quạnh quẽ mấy ngôi miếu thờ u linh giữa thâm sơn cùng cốc, tôi và Gia Ly, phóng viên thường trú tại Quảng Nam của báo Đời sống & Pháp luật đã dừng chân dăm ba phút vào thành tâm thắp mấy nén hương kính ngưỡng. Nói dại chớ lỡ chỉ cần một chiếc xe máy của nhóm dỡ chứng thì chẳng biết đám nghệ sỹ nửa mùa chúng tôi sẽ cười khóc thế nào cho thấu đến tai trời…
Cảm khái trước cách đi đứng có phần lạ đời còn rơi rớt đến tận thế kỷ hai mươi mốt này, vậy mà không biết nhờ đâu, thi hứng cứ trào dâng trong mỗi nỗi hào sảng của mọi người. Ghé vào quán cà phê Trúc Ly trông rất xinh ở đầu “phố”, chưa kịp yên vị đã nghe nhà thơ Phạm Thông ngân nga mấy câu thơ Quang Dũng. Mà thật, trước tình cảnh này, tự nhiên những “Đôi bờ”, những “Quán bên đường” rồi “Đôi mắt người Sơn Tây” sao nó hợp tình hợp cảnh quá. Mọi người lõm bõm hòa theo: “Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai/ sông xa từng lớp lớp mưa dài/ mắt kia em có sầu cô quạnh/ khi chớm thu về một sớm mai…”. Cũng bởi bất chợt sinh tình nên cả bọn không một ai nhớ đến đầu đến đũa những thi phẩm nổi tiếng trong thi đàn nước nhà. Gia Ly nhanh trí lôi cái laptop trong ba lô ra gõ google, thế là chúng tôi chuyền tay nhau giữa quán mà hưởng trọn một chiều thơ lịch duyệt, chẳng phải ngại ngần gì mấy người khách đang ngồi nhâm nhi ở bàn bên cạnh…

Núi Cà Tang & cầu Nông Sơn

Điện thoại cho nhà thơ Hà Văn Đa, anh bận đi tập huấn ở ngành giáo dục huyện, chúng tôi đành bỏ dỡ cuộc hội ngộ mong chờ. Thế là phải sớm rời cái thị tứ đang nhăm nhe nổi danh nhờ vào việc sôi động của nghề làm trầm cảnh xuất khẩu, một cơ hội mới hứa hẹn sự đổi đời cho những cư dân vùng cao nơi thượng nguồn sông Thu này. Chúng tôi tìm đường lên làng Đại Bường, vùng cây trái Nam bộ thu nhỏ giữa núi non xứ Quảng. Từ chợ Trung Phước, chỉ tà tà khoảng chưa đến năm cây số, chúng tôi rẽ về bên tay phải ở một ngã ba đường, đây là lối vào mỏ than Nông Sơn, một dạng vàng đen mà để khai thác được nó phục vụ cho các ngành công nghiệp, từ xưa đã để lại biết bao nhiêu buồn vui của phận số con người. Thì cũng vào tầm này đúng mười năm trước, một chuyện thương tâm đã xảy ra do cảnh ngăn sông cách đò, ta như còn cảm thấy xốn xang trong lòng mỗi khi nhớ đến 18 em học sinh đã ra đi mãi mãi, để hôm nay khi qua chiếc cầu Nông Sơn được xây dựng bởi sự chung tay góp sức của cả xã hội, không ai nén nổi ngậm ngùi, âu đành phú cho định mệnh. Lại một cú rẽ phải nữa khi qua khỏi cầu, chúng tôi chạy xe trên con đường bê tông vòng vèo một con đèo mi ni trông rất hữu tình, từ đây nhìn ngược lại, cầu Nông Sơn bắc qua sông Thu ở giữa hai ngọn núi, Cà Tang phía nam và Nông Sơn phía bắc, án ngữ tả hữu dòng sông, trông xa như sông ấy, núi ấy và cầu ấy là một chỉnh thể không làm sao khác được, vậy mà phải đợi đến “Khai trường này vắng bóng các em/ mười tám chỗ ngồi thất thần chờ đợi/ mười tám bàn thờ mờ trong hương khói/ mười tám góc nhà/ cặp sách im treo…” – (Cà Tang - N.T.T)…Nhưng thôi! Chẳng làm sao cải sửa được mệnh trời. Bên nỗi buồn đau đã dần lên sẹo ấy cũng có điều làm cho lòng người được an ủi, một nhà máy nhiệt điện công suất lớn, bề thế đang trong giai đoạn nước rút, xe máy hối hả thi công những hạng mục lắp ráp cuối cùng. Trên công trường, đây đó từng nhóm công nhân miệt mài làm việc giữa mịt mù bụi khói. Lúc chạy xe ngang qua những người thợ ấy, tôi lại nhớ về những tháng năm trai trẻ đắm đuối với nghề cầu đường của mình, gian khổ rất mực mà hạnh phúc cũng đã đời, chỉ mỗi tội nghèo do đồng lương của người lao động luôn bèo bọt. Đến tận hôm nay, cuộc sống tuy đã đổi thay nhiều, chế độ chính sách, những sự quan tâm điều chỉnh về việc làm và thu nhập dần được cải thiện, nhưng đối với người lao động chân tay trong các công trường, xí nghiệp vẫn còn ì ạch so với giá cả thị trường, những nhu cầu căn cơ phục vụ đời sống vật chất, tinh thần vẫn còn là điều xa xỉ đối với hầu hết giới công nhân lao động. Đi nhiều, gặp gỡ nhiều những cảnh ngộ mới mở lòng mở mắt mình thêm ra, mới thấy rằng còn biết bao nhiêu gian khó, thách thức luôn đồng hành trong cuộc chiến đấu sinh tồn và phát triển, luôn nhắc nhở ta những giá trị đích thực về ý nghĩa của đời sống.

Ngõ về

Đại Bường là cách gọi khác của làng Đại Bình, xã Quế Trung, huyện Nông Sơn. Một dải đất hẹp bên tả ngạn sông Thu Bồn. Anh Từ Văn Hải, một cư dân cho biết, làng có bề rộng từ chân núi ra sông khoảng 1 cây số và men theo giòng chảy độ 3 cây số chiều dài. Hơn 1200 nhân khẩu trên gần 350 hộ. Chủ yếu sống bằng nghề nông, làm lúa ruộng nước trời và trồng cây ăn trái vườn nhà. Điều đặc biệt là giữa miền Trung này lại có một ngôi làng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng cho các loại cây trái miền Nam sinh trưởng. Đi trên những con đường nhỏ đã được đổ bê tông quanh co cùng khắp xóm làng, những cổng ngõ đặc trưng của quê nhà còn được lưu giữ hết sức chăm chút, thẳng tắp những hàng chè tàu cắt xén đẹp mắt. Một chi tiết khá lý thú là trong ngôi làng này cổng ngõ chỉ để trang trí và mang nghĩa giới hạn về quyền sở hữu, tối ngủ mọi người không cần phải đóng cửa, xe máy đắc tiền thoải mái để ngoài trời chưa hề xảy ra mất cắp. Nhạc sỹ Mặc Ly không bao giờ đóng cửa ngõ kể cả khi gia đình có việc vắng nhà cả tháng trời…Chỉ dạo chơi chưa trọn nửa ngày nơi đây, vậy mà ta có ngay niềm tin về sự trù phú và yên bình, một mong ước không phải dễ dàng đối với rất nhiều vùng miền nông thôn nông nghiệp tính đến thời điểm hiện tại. Hầu như nhà nào ở đây cũng có một mảnh vườn tốt tươi xinh xắn. Nhìn vào sự đa dạng của các chủng loại cây trồng, sự phong phú về sắc độ của màu lá, ta biết đất đai này phì nhiêu vào loại “nhất đẳng thượng điền”. Thậm chí đến như những loài hoa cảnh ở mỗi sân vườn nhà kia cũng mơn mởn và rực rỡ, bụ bẫm những cánh hoa đang khoe màu trong nắng gió. Đúng là ưu ái quá mực của đất trời đã riêng ân sủng cho con người sinh ra trên mảnh đất này. Nhà thơ Hoàng Quy, đang sinh sống tại Cần Thơ vừa về thăm quê, đưa chúng tôi đi thăm mảnh vườn của mẹ ông để lại. Bên bờ sông, sau hàng tre xanh nghít trồng dày đặc để chống xói lở là một khu vườn rộng cả mẫu đất, mịn màng dưới chân người lớp đất pha cát thấm đẫm phù sa. Vịn vào một cây bưởi mà gốc chỉ bằng nắm tay quằn trĩu cành nhánh lúc lỷu quả, nhà thơ hồi hương cho biết thêm, đa số các loại cây đặc chủng này do một tay ông nội của nhà thơ đem từ trong Nam về nhân giống rồi phát triển rộng khắp cả làng, để hôm nay đi giữa Đại Bường, sum suê dưới những tán lá không biết bao nhiêu là thanh trà, một loại bưởi quý Nam bộ mà người Quảng Nam ta gọi là trái trụ, có vị ngọt thanh, ngõ Tiên Phước cũng trồng như một đặc sản nhưng không đại trà bằng. Ngoài ra còn có sầu riêng, cam, quýt, chuối, mít, chôm chôm v.v… Đến nỗi chỉ cần một vài kênh rạch ngang dọc nữa thì nơi đây không hề khác gì một vùng quê chuyên canh trái cây của Nam bộ.

Đêm, trời se lạnh. Bữa cơm tối có phần thịnh soạn do vợ chồng anh Hải chiêu đãi. Vốn là một nông dân kiêm thợ hồ năm nay vừa qua tuổi bốn mươi, nhưng trông vào cơ ngơi xem ra đã tương đối ổn định. Từng quảy gánh tang bồng theo bạn nghề mưu sinh tứ xứ. Hải giải nghệ khi Nông Sơn rộ nghiệp trầm, hiện nay anh là một trong số bốn cơ sở sản xuất trầm cảnh để xuất khẩu của làng. Hải có bốn “nghệ nhân” rất trẻ làm việc trong “biên chế”, với mức lương hai trăm ngàn đồng trên một ngày công kèm cơm rượu khề khà. Hầu hết thanh niên ở làng bây giờ đều bị hút vào nghề trầm cảnh, việc nông tang chỉ còn dành lại cho người già và phụ nữ, nhờ vậy, mức sống xem ra tươi nhuận hơn trước nhiều. Nhìn những “tác phẩm” trầm cảnh bày bừa bộn trong nhà ngoài sân, tính sơ có cả bạc tỷ để khơi khơi chẳng cần kín cổng cao tường. Qua chuyện trò, chúng tôi thấy rằng đằng sau những hứa hẹn đổi đời kia, là những lớp sóng ngầm cũng đang song hành, ở đó thể hiện bản lĩnh của con người dám xông xáo, nhạy bén và có gan liều lĩnh. Nhiều thách thức đòi hỏi cơ mưu linh hoạt của một “tay chơi” sành sõi. Đấy là một tín hiệu đáng mừng mà cũng đáng cân nhắc trong thời buổi làm ăn kinh tế khó lường, thấp thoáng sự dấn thân, một yếu tố “nghiệp tính” phần nhiều thường chỉ dành cho giới văn nghệ sỹ.

Tam Kỳ 01/9/2013

Cổng làng Đại Bường
Nguyễn Đức Dũng





Phù điêu


Phù Điêu



Van nhau đấy ! đừng run rẩy nữa
Sức vóc trăm năm lấy chi yêu người !?
Cơn phấn hứng cõi này chớp mắt
Biết sao đầy mời gọi thiên thu

Em mưa gió coi khinh vào dột tạt
Khói sương ta tốc mái mấy phong trần
Dẫu có đợi trùng trùng thế kỷ
Duyên nợ nào thoát cuộc phù vân

Thì cứ nhận vữa đời đắp đổi
Chẳng thể cầm lòng côi cút xiêm y
Ước muôn sau vẫn ngoài thế tục
Mà xuôi tay nhìn rướn bật xuân thì

Duy Xuyên 23 – 11 – 2005
Nguyễn Đức Dũng


Phù Điêu II


Trò chuyện với...vô cùng

Trò chuyện với …vô cùng

Mưa qua trời Mỹ Sơn
Tháp ghìm đời vào đất
Tượng không buồn vuốt mặt
Chỉ rủ nhau…nghiêng đầu .

Mưa từ đâu ? Vì đâu ?
Xối xả vào sinh thực
Giữa cuồng nộ đất trời


Vẫn trần thân thách thức …

Nắng gió ngàn năm qua
Quất rát từng hốc gạch,
Mưa của ngàn năm sau ?
Đá giật mình , trố mắt !!!

Thâm nghiêm một Mỹ Sơn
Hưng vong cười khoả lấp
Đối diện trước sinh tồn
Hữu hạn đành …cúi mặt !

Duy Xuyên - Cuối năm 2003
Nguyễn Đức Dũng

Tượng

Tượng

Em tầng vĩa cơ man ẩn dụ
nhìn xuống nhân gian mắt buồn như rêu
thả xuống ngày anh tóc buồn như gió

nghìn năm qua phập phồng ngực đá
tay người run ,
huyền hoặc cái cười !


Đêm huyền diệu

tay người phàm cái đẹp toát mồ hôi
nỗi khát yêu rùng mình mươi thế kỷ
huyền hoặc trêu ngươi tràn cơn mộng mị
huyền hoặc eo thon
lở núi ,
đau rừng …

nghìn năm rồi căng nhức cặp đùi rung
rụng tay múa chưa vầy nên cuộc
mà lũ dơi kia cấu cào vào đơn chiếc
vạc lùa sương làm chi ,
khi nguội máu nhân tình

em cứ cười treo giá của điêu linh
ngoảnh mặt phù vân
lắc đầu dâu bể
trò góp nắng gom mưa mà bão giông trần thế
thấm vào đâu
hiu hắt … lông mày !
Duy Xuyên 26 - chạp - Mậu Tý
Nguyễn Đức Dũng