Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Đồng đội


“ tặng đồng đội công trường đường sắt Quảng Nam –Đà Nẵng “
1975-1980
…thương cái thời sắn lát cõng bo bo
không quật nổi chúng mình
đôi mươi , mười tám
nghêu ngao hát
búa quai mòn vách núi
chiều cười rung bãi mìn…

những chủ nhật tròn theo trái móc , trái sim…
hoa mua tím rừng bâng khuâng tặng bạn
những công trường nối dài quê kiểng
ta đi ,
bình minh nào cũng …xuân !

trùng điệp ta đi
tên đất , tên làng …
qua những xóm thôn vừa ngừng tiếng súng
qua những mái tranh mẹ vừa che tạm
khói bếp chiều bịn rịn chẳng bay lên


cái lạnh đêm rừng không thể nào quên
từng roi gió quất ngọt vào trai trẻ
năm bảy đứa rủ khoanh tròn đống lửa

Mỏ đá Duy Trung

sau lưng sương xuống đầm.

nhớ đêm trăng đàn chảy bập bùng
chuyện quê xứ gập ghềnh câu hát

chuyện lứa đôi gởi vào ánh mắt
chuyện mai ngày …
bẽn lẽn gởi sao khuya !

đâu nề hà cứ vậy ta đi
mơ ước đẹp trong sức dài vai rộng
đời sẽ xanh bằng tin yêu cháy bỏng
quê sẽ vui như háo hức bây giờ



và thế rồi năm tháng kéo ta đi
cơm áo rẽ hẹn thề ra bốn phía
lắm khi nhớ thì giấu vào kỷ niệm ví như rằng cái sự nó …đương nhiên !

bất chợt hiên mưa quán vắng một chiều
ly hội ngộ rót nỗi niềm của tuổi
chuyện rối bung về ngày cũ kỹ
tràn miệng cười , quơ đũa gắp …rưng rưng !
Duy Xuyên 07-12-2005
Nguyễn Đức Dũng

Tụng ca

Tụng ca
“Riêng tặng một người hay thả tóc bay…”

Tắm rửa lần cuối cùng những bài thơ đã cũ
một thời xưng tụng
cõi chân không ca ngợi chỗ em ngồi
con đường em đi
hàng cây em đứng
tóc xõa
chiều
gió
ngẩn ngơ
hương

Anh tưởng mình thánh tử đạo cuồng si
hồn loạn thị cơ man màu sắc
những vòng hoa kết bằng nước mắt
những nét cười tinh huyết trẻ trai

Thôi nhé em vô dụng tuổi tên rồi
đắp mặt từng phút giây yêu đương
ngữ ngôn vụng dại
từng thì thầm đớn đau hạnh phúc
mà không tường thật hay mơ

Khổ hạnh một đời thơ khổ hạnh một tượng đài
em
chói lòa
ánh sáng
những hò hẹn ngọt ngào ban phát
những đường mật em tin
anh bật khóc niềm kính tín không thể nào ngây thơ hơn được
đôi cánh ảo tưởng cuối trời
không thể bay lên
ôi con chiên
tội nghiệp

Thôi nhé em xin được lặng im
để còn tin bi ký buồn tự dựng
không khắc tên
không nét chạm
diêm sinh từ ngọn lửa chính mình

Tam Kỳ 18/5/2012
Nguyễn Đức Dũng

Dặm dài


cầu Ông Nơi - dưới chân đèo Le




“Tặng đồng nghiệp-Những người thợ Cầu Đường“
Câu thơ nặng lòng như trái chín cây
mong một mùa cả gió
(anh nhớ em tưởng chưa từng được nhớ)
thăm thẳm mắt nhìn
ve vuốt đêm suông …

Vẫn còn đi mài miệt những con đường
ngỏ ngách cơn mơ anh lầm lụi
câu thơ như trẻ sinh ra lớn lên từ lời ru của mẹ
lời ru của bà
lớn lên từ khúc đồng dao
nu na nu nống
chuyền một chuyền hai …

Câu thơ nứt rễ đâm chồi giữa trái tim anh
háo hức trời xanh mây trắng
như mắt sơ sinh háu bầu vú tròn
căng căng nhựa sống .
Cuộc đời rủ rê câu thơ và anh vào trò rồng rắn
đi hoài chưa gặp nổi mình
cuộc đời di thực anh và câu thơ cùng khắp
như trẻ vô tư trồng nụ cười vào đất
tay trắng tay đen ,
trồng cây dừa chừa cây mận

( em trồng anh sum suê nỗi nhớ )


Vai áo đã đầy gió bụi trời xa
tóc tai đầy buồn vui tuổi thợ
hai đứa ta đầy đêm dài trăn trở
mong con mình áo đẹp cơm ngon

Vẫn còn đợi anh dang dở con đường
đợi anh nhịp cầu chưa nối
té tát mưa rừng
chang chang nắng gội
bè bạn đợi anh bữa cơm ăn vội
thầm thĩ canh trường hơi thuốc chuyền tay …

Những cung đường đau đáu trời mây
gió lộng lưng đèo chênh vênh đá núi
lạt lòng một ngực yêu bổi hổi
nẻo quê nhà thao thiết gọi anh đi

Đồng đội cũ ở Đèo Le hôm nay



Câu thơ rồi cũng như anh lang bạt kỳ hồ
chưa biết mình đang ở đâu chợt quên , chợt nhớ
câu thúc giữa nhân gian mưa tràn nắng đổ
từng sớm sương mờ
từng khuya trăng tỏ
yêu đến đớn đau mái đời nặng nợ
mơ khoảng trời ,
dắt díu …bay lên !
Sớm ở Công trường 29-7-2007
Nguyễn Đức Dũng






CHU THỤY - Góc cạnh Nguyễn Đức Dũng

Làm thơ rất sớm, nhưng đến năm 1988 Nguyễn Đức Dũng (hội viên Hội VH-NT Quảng Nam) mới đăng tải bài đầu tiên trên báo Quảng Nam-Đà Nẵng (cũ) với bút danh Ngụy Trừ Tịch. Phải mất 10 năm sau, anh góp bài thứ 2 trên tạp chí Đất Quảng. In chung ở nhiều tập thơ (Thơ lục bát - 2002, Dấu xưa đất Quảng - 2004, Thơ tình lục bát - 2005, Sóng thời gian - 2006, Đất Quảng tình quê - 2006, Mẹ ơi! - 2007, Thơ Quảng Nam mười năm - 2007, Hạnh ngộ 2 - 2007, Lời ngắn tình dài - 2008, Thơ ơi, cùng chảy nhé! - 2009), mãi rồi Nguyễn Đức Dũng mới có cho riêng mình tập đầu tay: Áo giấy cho sông (NXB Văn nghệ - 2009).
Sinh năm 1958 tại Lệ Cần (Pleiku), nhưng quê nội Nguyễn Đức Dũng ở Điện Bàn, quê ngoại Thăng Bình, hiện cư ngụ ở TP.Tam Kỳ (Quảng Nam). Những “xê dịch” nơi quê quán cũng in hằn trong thơ anh - tác giả khá quen thuộc trên trang thơ Quảng Nam cuối tuần (khoảng 1/3 trong số 55 bài thơ trong tập Áo giấy cho sông đã được Quảng Nam cuối tuần đăng tải).
Thơ Nguyễn Đức Dũng thoáng chút mất mát, ly tán, niềm hồi cố nhẹ nhàng, một tâm sự gửi gắm về phía xa xăm… Thơ đọc lên nghe rất quen, rất cũ càng, hóa ra anh viết bằng đúng chất giọng quê nhà, hoặc viết vào những lần rất tình cờ ngẫu nhĩ mà đọc nghe thấm đau với người đồng cảnh ngộ. Giọng thơ rất góc cạnh, nhiều đột phá trong cách sử dụng ngôn từ ấy, thật ngạc nhiên, gần như lại là một “nghịch lý” khi mang ra đối sánh với vẻ bề ngoài hiền lành của nhà thơ.

Chu Thụy
( Báo Quảng Nam)



NGUYỄN MẬU HÙNG KIỆT - Người về "Áo giấy cho sông"


Người về "Áo giấy cho sông"(*)




Nguyễn Đức Dũng không thuộc típ người phiêu bạt, giang hồ, lãng tử. Thế nhưng do yêu cầu công việc của một thợ cầu đường, suốt một thời trai trẻ, anh phải sống rày đây, mai đó. Đôi chân anh đã đi qua “trùng điệp” những tên đất, tên làng. “Cuộc đời rủ rê câu thơ và anh vào trò rồng rắn/ đi hoài chưa gặp nổi mình/ cuộc đời di thực anh và câu thơ cùng khắp/ như trẻ vô tư trồng nụ cười vào đất... Câu thơ rồi cũng như anh lang bạt kỳ hồ/ chưa biết mình đang ở đâu chợt quên chợt nhớ" (Dặm dài). Nổi nênh phận người giữa cuộc đời dâu bể, Nguyễn Đức Dũng đành phải làm một kẻ tha hương bất đắc dĩ (dẫu anh vẫn sống ngay trên mảnh đất quê nhà). Chính vì vậy mà con người anh và thơ anh cứ đau đáu tìm về bến quê của đời người; luôn hướng vọng về phía quê cha, đất tổ; thèm khát được ngụp lặn, tắm táp, quẫy đạp trong dòng sông trẻ dại.
Về quê! Với anh là cuộc quay về trên hành trình tìm kiếm “cái tôi” khi anh ngộ ra "Có những phận đời duyên nợ chẳng nên chi/ Có những phận đời lơ ngơ cơm áo/ Có những phận đời vay giông góp bão/ biền biệt xa khuất bóng quê nhà" (Nỗi quê).
"Áo giấy cho sông" là tập thơ được Nguyễn Đức Dũng chưng cất từ những nỗi niềm quê kiểng dâng tặng quê nhà. Có thể nói, đây là một tập hợp được anh chọn lựa khá kỹ lưỡng, cẩn trọng, thành kính, thiêng liêng chẳng khác nào người ta bày biện một mâm lễ cúng. Mà đúng vậy, chẳng phải ngẫu nhiên anh chọn tiêu đề tập thơ như thế nếu không có chủ đích: "bày biện tấm lòng đứa trẻ đã hoa râm/ như hương như lễ/ bảng lảng khói trầm/ bày biện vàng mã ngoằn ngoèo hoạ tiết..." để được thổn thức, giãi bày trước vong linh làng mạc, ông bà, cha mẹ:
Về quê thắp một lòng hương khói
Một đời áo giấy đốt cho sông
Đem hồn hoa cỏ này xin chuộc
Một tiếng chèo khuya, khuấy giữa dòng…
(Tứ tuyệt sông)
"Thế gian biến cải vũng nên đồi", mất đi một khúc sông, một bến quê không là chuyện lạ. Thế nhưng "khúc sông" của anh lại mang nhiều ý nghĩa tâm linh trong dòng thời gian bất tận. Vẫn biết vòng tuần hoàn của tháng năm như nhịp ru đều đặn vẫn không thể giấu nổi một hình hài lớn lên, già đi và vắng bóng. Thấu hiểu cái quy luật nghiệt ngã của tạo hóa, ý thức mình là một đoạn đứt gãy trong vòng tròn ấy, anh đã tìm cách xuyên thủng "vòng kim cô" thời gian bằng muôn vàn sự ký thác tâm trạng. Đó là tâm trạng của một kẻ ly hương "cứ nằng nặc quay về/ Da đen sạm phù sa đi cùng trời cuối đất/ Mà chùa chiền chỉ một phía sông quê!" (Chỉ nói riêng với con); tâm trạng của một đứa con "Lỡ một trời phiêu giạt lông bông" lại "Đau đáu thanh minh/ rềnh rang giỗ kỵ/ Chẳng nguôi khuây chút thẹn giấu bên lòng" (Tư Phú); tâm trạng của một thằng tôi "Thương một đoạn đời trần truồng xanh trong/ giật mình con cá quậy/ mênh mông người ta thì chảy/ phiên tôi cởi áo cạn dòng." (Nơi xưa đã từng sông)...
Anh ủ ấp "ký ức cởi truồng" bằng nỗi nhớ thương da diết tháng ngày khốn khó và bằng tấm lòng tri ân công đức sinh thành. Anh luôn thấy mình "là con nợ của nhà nông/ con nợ ruộng đồng/ bóng cò/ bóng vạc.../ nợ tự trong nôi/ tới hồi tóc bạc/ một đời,/ vun ngọn... không vơi!" (Nợ phù sa) nên không tránh khỏi những trăn trở, day dứt "Bạc đầu con đắn đo thơ/ Trả không xuể,/ Nợ./ Ngày chưa... đánh vần" (Cơn mưa của mẹ) và nhiều khi còn thoáng chút ngậm ngùi, trắc ẩn "Khi ta biết ta còn nguồn để nhớ/ buổi trần ai đã lợp trắng đầu/ trăm năm đó không vay cũng nợ/ trả bao giờ cho kịp xưa sau?" (Khúc giang đầu)
Yêu đến đớn đau quê nhà, anh cố giữ lấy một giọng quê rặc Quảng Nam, chơn chất, thiệt thà. Và có lẽ, đó cũng là điều anh tâm niệm: "Còn đây tháng rộng năm dài/ thưa rằng: con trẻ giữ hoài giọng quê" (Giọng quê). Anh sử dụng khá nhuần nhuyễn phương ngữ Quảng Nam và cách nghĩ, cách nói, cách thể hiện cũng đậm chất mặn mòi của người dân xứ Quảng:
Từng lưu tán mấy trời cơm gạo
Vẫn nôm na giọng đặc Thu Bồn
Mặc gai góc tróc trầy danh phận
Lấy nỗi niềm quê kiểng kéo da non
(Chỉ nói riêng với con)
Với tác phẩm văn học, hình thức nghệ thuật không chỉ là từ ngữ, những hình ảnh mà xuyên qua những cái đó là thế giới tinh thần. Nói vậy để thấy rằng bên trong lớp vỏ ngôn từ ấy là thế giới nội tâm của anh và cả quan niệm của anh về cuộc sống, con người. Mất đi một đoạn sông, với anh, là mất đi một cái gì đó thiêng liêng của đời người. Bởi anh quan niệm "đó là nơi tôi hằng tâm phát nguyện phụng thờ như chùa chiền, để cố tự ràng buộc mình bằng một sợ dây tâm linh hối lỗi, để nhớ rằng nơi đây cha ông đã phát tích sinh cơ rồi truyền đời cho con cháu anh em chúng tôi bây giờ tắm gội" (Thay lời tựa). Và như thế, ta hiểu được những thổn thức, những nấc nghẹn của anh một khi "đời người vuốt mặt đời sông"!
"Sự phát khởi của thơ là lòng người" (Lê Quí Đôn). Một trong những đặc điểm chính của thơ là bộc lộ cảm xúc một cách mãnh liệt. Anh Nguyễn Đức Dũng đã chạm đến cõi thơ bằng những xúc cảm chân thành. Nói như một anh bạn: thơ hay ở chỗ lòng người trong vắt, ở chỗ chân thật, biết trân trọng, yêu quí con người, cuộc sống, dẫu đôi lúc phải cắn bầm nát môi. Anh xứng đáng nhận những lời "có cánh" đó. Tôi thiết nghĩ, nếu anh biết tiết chế cảm xúc hơn một chút và đừng quá tô đậm chất Quảng Nam thì thơ anh sẽ nhẹ nhàng thăng hoa cất cánh.
Xin được chia vui cùng anh – người anh, người bạn thơ "nghinh ngang" cô độc của Hội Văn học – Nghệ thuật Quảng Nam!
Hè 2009
-------------------
(*) Áo giấy cho sông – Nguyễn Đức Dũng – NXB Hội Văn nghệ, 2009
1780 từ viết bởi: maukiet •Ghi cảm nhận





Đất quê




                                                                       “ kính hương hồn Cha một đời gian truân “
Trôi xa xứ suốt thời trai trẻ
lông bông không cửa không nhà
âm ỉ nắm tro quê kiểng
từng chiều ngoáy cổ trời xa
đi nửa đoạn mà ra người nửa phận
nửa bầy con lôi thôi
đứa tật ,
đứa khờ...
nửa sương khói xanh suông vào cây cỏ
nửa còn
mộng mị …hời quê !
quê mộng mị ngày gạo châu củi quế
ngày con áo khăn đuổi gió ngang trời
ngày con thả trôi hạt hạt phù sa lở mắt già xót đất
chiều ra sông,
ngùi ngùi !
ngó sông...
đêm nhận được tin cha trả cõi
con rồi nên bão nên giông
chân thấp chân cao mong về gặp mặt
chờ trơ nấm đất không tròn !
quày quả nuột lạt neo mình quày quả lòng xưa ấy
quày quả lứa măng dưới ngờm ngợp sinh thành
con chiếc nan tre,
hẹn cánh diều cho trẻ
đất này thắp khói mà xanh …
Đêm Điện Bàn 7-2001
Tam Kỳ 10- 02-2009
Nguyễn Đức Dũng


cầu Đường sắt Kỳ Lam


Hát trên cánh đồng

o Hát trên cánh đồng
“ Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
“ khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn …
CLV.

Cứ cày xới lên đi những đường cày nông choèn càng sâu càng bạc màu của cát
cứ cày xới lên đi những đường cày trên trán mấy đời tủi cực
ta lầm lỳ cúi xuống giấc mơ xanh .

Cứ kệ đời cày xới những toan tính thiệt hơn
vãi vào nhau những gánh phân buồn .
gặp lúc nghịch trời đêm khua mắc cửi
dệt ngày ấm áo no cơm .

Từng thế hệ mẹ cha cặm cụi với đồng
lưng áo mồ hôi vẽ bản đồ mộng mị
sấp ngửa nẻo bờ ngoằn ngoèo chắp vá ,
chông chênh manh mún phận người …

Xin dõng dạc lên nào thất bát ta ơi !
này quanh co bậc thang này đường cày úp mặt .
Mẹ đẻ rớt ta vào văn minh lúa nước ,
nên khó nghèo vẫn thương đất không nguôi .
Duy Trung 11-12-2004
Nguyễn Đức Dũng
Thu Bồn nhìn từ cầu Kỳ Lam